Giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt việc nói và làm

1.Một số vấn đề mang tính gợi mở.

Trong gần 5.000 ngôn ngữ được con người biết tới và hơn 2.700 sinh ngữ vẫn còn được sử dụng cho đến ngày nay – Tiếng Việt không phải là thứ ngôn ngữ mang tính phổ quát như: tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Bồ Đào Nha, song nó vẫn là một thứ ngôn ngữ lâu đời và hiện tại vẫn còn tới hơn 100 triệu người Việt trên khắp thế giới sử dụng. Đó chỉ là một con số mang tính biểu trưng song cũng thể hiện phần nào tầm vóc và giá trị lịch sử to lớn của Tiếng Việt ta. Công cuộc giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt đã được khởi xướng từ những năm 1960 song cho tới bây giờ nhiều vấn đề bất cập vẫn còn bị bỏ ngỏ.

Trước hết, chúng ta muốn giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt thì chúng ta phải hiểu “sự trong sáng của Tiếng Việt” là như thế nào? GS VS Vũ Tuyên Hoàng, Chủ tịch Liên hiệp Các hội KH & KT VN đặt ra vấn đề bằng một câu hỏi như thế. Một câu hỏi đơn giản, tưởng chừng dễ dàng bỏ qua, nhưng đã thu hút được rất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu. Mà thực chất, từ việc làm rõ khái niệm trong sáng này, ta sẽ lần lượt làm rõ một loạt các vấn đề cốt lõi như: Chuẩn, chuẩn hoá, chính sách ngôn ngữ... "Nói đến trong sáng là nói đến sự chuẩn hoá. Ở đâu sự giao tiếp bị cản trở (không rõ ràng, không chính xác, không hay) thì rõ ràng cần có sự điều chỉnh cho phù hợp"[1]. "Lâu nay, nhiều người vẫn cho rằng, một tiếng Việt trong sáng là một tiếng Việt thuần nhất, không pha tạp. Điều này là cần thiết"[2]. Nhưng trong số hơn 5.000 ngôn ngữ hiện có trên thế giới, hỏi có ngôn ngữ nào tách riêng khỏi thế giới, đứng một mình như một ốc đảo? Ngôn ngữ nào tồn tại cũng cần phải quan hệ. Mà đã nói tới quan hệ, là nói tới sự tiếp xúc và giao thoa, di chuyển và pha trộn. GS TSKH Nguyễn Quang Hồng (Chủ tịch Hội Ngôn ngữ học VN) khẳng định: "không có sự tiếp xúc với các ngôn ngữ khác thì tiếng Việt không thể được như ngày nay". Ngay từ năm 1912, nhà ngôn ngữ học người Pháp H.Maspéro đã thống kê được 60% vốn từ tiếng Việt là gốc Hán, và hiện tại, cũng có xấp xỉ 2.000 từ tiếng Việt gốc Pháp[3]. Do đặc điểm lịch sử, người Việt đã vay mượn “từ ngoại”, nhưng chúng ta không vay mượn một cách thụ động mà dần dần (qua cách đọc, cách sử dụng) đã biến các từ ngoại thành "tài sản" của riêng mình. Điều này trước hết là nhờ tiếng Việt có một bản lĩnh, gốc rễ rất sâu bền từ cơ tầng ngữ hệ Mon-Khmer, có sự hoà trộn hài hoà với ngôn ngữ Tày-Thái... Chính điều đó đã làm nên bản sắc, cốt cách một tiếng Việt đơn âm với cách cấu tạo từ, cách phát âm, lối nói hoàn toàn riêng biệt.[4] 

Như vậy, giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt được hiểu đơn thuần hơn là sự duy trì ngôn ngữ Tiếng Việt một cách thuần nhất, không lai tạp, có tính chuẩn hóa cao về mặt ngữ nghĩa và cấu trúc. Tuy nhiên, nói như vậy sẽ có phần mâu thuẫn với thực tế vì bản chất ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội, mà đã là một hiện tượng xã hội thì chắc chắn phải chịu sự tác động của các yếu tố xã hội và ít, nhiều sẽ có sự biến đổi. Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập thế giới hiện nay sự giao lưu, tiếp xúc diễn ra hàng ngày, hàng giờ trên hầu khắp các mặt của đời sống, liệu ngôn ngữ Việt có đứng ngoài guồng xoay đó hay không ? Như chúng ta đã biết, một trong những đặc trưng nổi bật nhất của Tiếng Việt là khả năng tiếp thu mạnh mẽ những yếu tố được vay mượn từ các ngôn ngữ khác nhau mà nó có điều kiện tiếp xúc, đó là các thứ tiếng: Hán, Pháp, Nga, Anh và các ngôn ngữ anh em cùng sống trên lãnh thổ Việt Nam. Khi đã được hội nhập các yếu tố này thường được Việt hóa một cách nhanh chóng làm cho Tiếng Việt ngày càng phong phú, đủ sức làm tròn chức năng là công cụ giao tiếp của cộng đồng người sử dụng Tiếng Việt đương thời. Như nhà nghiên cứu Phan Ngọc đã từng đánh giá: “Sự vay mượn lúc này đóng vai một nhu cầu nội tại của chính ngôn ngữ đi vay, không phải một sự cưỡng ép”. Như vậy, có thể thấy vay mượn là một hiện tượng phổ biến của nhiều ngôn ngữ trên thế giới. Những điều kiện của xã hội hiện nay cho phép các cộng đồng khác nhau có thể tiếp xúc cùng lúc với nhiều ngôn ngữ. Hiện tượng song ngữ, đa ngữ đang trở thành phổ biến trong đời sống ngôn ngữ của nước ta.[5]

Vấn đề là ở chỗ chúng ta nên chủ động tiếp thu những yếu tố cần thiết, nhằm tăng cường khả năng diễn đạt các thuật ngữ mới của Tiếng Việt (đặc biệt là các thuật ngữ mang tính chuyên biệt khoa học), song không nên quá lạm dụng thuật ngữ ngoại lai mà quên đi tính biểu đạt rất cao của ngôn ngữ Tiếng Việt, nếu để Tiếng Việt mất đi vai trò đó thì chúng ta dễ rơi vào tình trạng bị nô dịch về mặt ngôn ngữ. Và, chúng ta có thể khẳng định rằng: nếu tộc người nào đó mất đi ngôn ngữ mẹ đẻ của mình thì sợi dây kết nối quá khứ - hiện tại – tương lai xem như không còn nguyên vẹn. Không chỉ riêng ngôn ngữ được thể hiện bằng lời nói và chữ viết mà ngay cả ngữ âm, ngữ điệu, cách nhấn nhá, cách dùng từ, cao độ, thanh điệu và ngay cả những âm, từ được xếp vào loại “địa phương” cũng cần được giữ gìn như những thành tố văn hóa của tộc người. Vấn đề hòa đồng trong môi trường chung để hội nhập là rất cần thiết nhưng cũng đừng vì thế mà đánh mất đi những bản sắc riêng của từng dân tộc, từng vùng miền.

2.Nên chăng việc phê phán ngôn ngữ của lớp trẻ ?

Nếu như trước đây chúng ta vẫn thường nhắc đến hai lớp ngôn ngữ chính trong xã hội là ngôn ngữ bác học (trí thức) và ngôn ngữ bình dân thì ngày nay xã hội Việt Nam lại đang phải đau đầu tìm cách đối phó với lớp ngôn ngữ trẻ. Trong đó ngôn ngữ tuổi mới lớn (ngôn ngữ tuổi teen) và ngôn ngữ công sở đang là chủ đề được nhiều báo đài quan tâm phản ánh.

Với những đối tượng thuộc lứa tuổi mới lớn – tuổi vị thành niên, hầu hết các em đang đi học, lứa tuổi giao động phổ biến từ 13 tới 20. Ở lứa tuổi này các em rất năng động, ham sáng tạo, thích tò mò và môi trường vui chơi giải trí trên màn hình (máy tính và điện thoại) là một môi trường rất lý tưởng. Ở trên đó các em tha hồ được tạo ra những quy chuẩn cho riêng mình, thoải mái nói những gì mà ngoài đời thực chắc chắn sẽ bị ông bà, cha mẹ, thầy cô khiển trách.

Không hiểu bọn trẻ đang nói hoặc nhắn tin cái gì !” là ý kiến chung của nhiều bậc phụ huynh. Qủa thực, xâm nhập thực tế chúng ta mới thấy nhận định này là hoàn toàn xác đáng, kiểu hành văn, cách dùng từ, cách tổ chức câu chữ thì “chỉ có người trong cuộc mới hiểu”, ví như: “Hum ni là 14-2 đéy pà kon ạ, đư pợn na dwc twng hoa kua! Ko 1 fan twng hoa jo min nen thay zui zui…”, nghĩa là: "Hôm nay là 14-2 đấy bà con ạ, đã có bạn nào được tặng hoa chưa! Có một người hôm mộ tặng hoa cho mình nên thấy vui vui..."  Hay “Ngoi` pun` hok bjk lem` je^`, vo^ tinh` nghj~ den' anh, hok bjk jo` nay` anh dang lam` j` ” (Ngồi buồn không biết làm gì, vô tình nghĩ đến anh, không biết giờ này anh đang làm gì)[6]. Và, cách dùng từ của lứa tuổi này cũng rất lạ, nhiều từ được dùng với nghĩa rất méo mó, sai lệch ví dụ: “Thằng này nhìn thế mà chuối” (chuối là từ lớp trẻ dùng để chỉ sự đần độn, khờ khạo, không liên quan gì đến lớp nghĩa truyền thống), hay như: “Thôi cứ đi nhậu đi, có gì ta căm – phu – chia” (Căm –phu – chia một danh từ riêng được giới trẻ biến thành động từ với nghĩa là chung, chia), hoặc còn nhiều từ với “nghĩa” rất mới như: khoai (khó); phở (đẹp đẽ, ngon lành); điên đảo (cực kì); vãi (kinh khủng); hack (siêu); hic (buồn), haha (vui)…v.v.

Nhiều nhà nghiên cứu cũng cho rằng ngôn ngữ trên mạng được hình thành với những hình thái ngày càng phong phú và rõ nét hơn. Họ cũng lý giải vì sao giới trẻ lại hào hứng với những thay đổi ngôn ngữ trong thế giới Internet, mà nguyên nhân chủ yếu là muốn xác lập một thế giới riêng của những người trẻ, với nhiều sự sáng tạo và nhằm hạn chế yếu tố cứng nhắc, nhàm chán. Như vậy, có thể thấy giới trẻ trong câu chuyện này đóng vai trò vừa là “nhà sản xuất” vừa là “người tiêu dùng” của những ngôn từ mới này. Mặt khác, điểm dễ nhận thấy ở loại ngôn ngữ này là rất ngắn gọn, đặc biệt trong trong cách nhắn tin bằng điện thoại. Với những người thường xuyên nhắn tin như lớp trẻ hiện nay (50 -100 tin/ngày) thì đây là một sự lựa chọn tối ưu về cả thời gian, thao tác và tiền bạc. Bên cạnh đó, nhãn quan của lớp trẻ còn cho loại ngôn ngữ này nhìn dễ thương, nghe hay hay. Và, đặc biệt phụ huynh sẽ không thể biết họ đang trao đổi chuyện gì…

Khác với những thế hệ trẻ mới lớn, giới công chức, nhân viên văn phòng đều là những người đã hoàn toàn trưởng thành, có học thức và ít nhiều có sự hiểu biết trong xã hội. Tuy vậy, lắng nghe những vị này nói chuyện ở công sở chúng ta cũng không khỏi hết bàng hoàng: "Chị nghĩ là với cái problem (vấn đề) này, chúng ta nên discuss (thảo luận) lại. Các bạn mà không clearly (rõ ràng) thì làm sao chị sure (chắc chắn) là các bạn sẽ tự handle (xử lý) được!"[7]. Kiểu nói nửa Tây, nửa Ta như thế này hiện giờ đang trở thành mốt nơi công sở.

Nhận định về những hiện tượng này, TS Ngôn ngữ học Mai Ngọc Huy cho rằng: “Chúng ta chỉ hạn chế, dung hòa và làm trung tính nó chứ không thể “tẩy sạch” được. Chúng ta không nên áp đặt tuyệt đối với giới trẻ được vì đó là quyền tự do cá nhân. Xã hội càng văn minh thì ta càng phải tôn trọng quyền tự do cá nhân. Chúng ta không nên can thiệp một cách thô bạo vào đời sống cá nhân được. Khi giới trẻ nói chuyện riêng với nhau bằng ngôn ngữ của riêng họ thì ta làm sao cấm được vì họ có nói cho đại chúng nghe  đâu…”

Trên thực tế, đây không chỉ là câu chuyện ở Việt Nam. Một số bài báo của nước ngoài cũng đã nêu ra xu hướng về ngôn ngữ mà giới trẻ sử dụng trên Internet, bắt nguồn từ nhu cầu viết tắt và giản lược từ ngữ nhằm rút ngắn thời gian cho việc đánh máy trong quá trình chat hoặc viết phản hồi trên các diễn đàn. Ngoài tốc độ đánh máy, thao tác với bàn phím thì cách viết giản lược còn giúp người viết tiết kiệm một lượng thời gian đáng kể. Tuy nhiên, điều mà các nhà ngôn ngữ học lẫn những người yêu sự trong sáng của ngôn ngữ lấy làm lo ngại chính là xu hướng ngôn ngữ này bị đẩy đến thái cực “méo mó” về mặt ngữ nghĩa.

Như vậy, có thể thấy lớp trẻ với tâm lý của tuổi mới lớn thường hiếu động, thích tìm tòi, khám phá cái mới, cái độc đáo để thể hiện mình, nhưng trước hiện tượng từ ngữ hỗn tạp như vừa nêu thì việc giáo dục sử dụng Tiếng Việt thuần túy và chữ quốc ngữ cần được quan tâm một cách sâu sắc. Nhìn xa hơn, việc ngày càng nhiều thanh, thiếu niên sử dụng ngôn ngữ lai căng, hỗn tạp cũng chính là dần đánh mất đi bản sắc, tinh thần dân tộc, do đó không thể xem nhẹ hiện tượng này. Tuy nhiên, chúng ta cũng không nên vì thế mà thực hiện việc cấm đoán hay lên án một cách nặng nề lớp trẻ, vì chúng ta biết rằng ở mỗi lứa tuổi khác nhau thì tâm lý, tình cảm và cả nhãn quan thẩm mỹ cũng hoàn toàn khác nhau. Điều cốt yếu quan trọng là chúng ta phải “giáo dục chứ không áp đặt”.

3.Giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt việc nói và làm.

Như đã trình bày ở trên, công cuộc giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt đã được các nhà nghiên cứu phát động từ những năm 1964-1965, song tới bây giờ vẫn còn nhiều vấn đề tồn đọng, đặc biệt những năm gần đây xu thế hỗn tạp hóa ngôn ngữ đang trở nên bùng phát trong giới trẻ. Việc nói thì chúng ta cũng đã nói từ rất lâu và cũng đã nói rất nhiều song vấn đề triển khai thực hiện thì cho tới nay vẫn chưa có một hành động nào có thể xem là tương xứng với những phát ngôn và kỳ vọng. Những cơ quan, ban ngành hữu quan vẫn chưa thể hiện được nhiều, Viện Ngôn ngữ học Việt Nam được thành lập từ năm 1968 với chức năng “nghiên cứu những vấn đề cơ bản về lí luận và ứng dụng ngôn ngữ của tiếng Việt, của các ngôn ngữ dân tộc ít người và các ngoại ngữ ở Việt Nam, cung cấp các luận cứ khoa học cho việc hoạch định chính sách ngôn ngữ của Nhà nước…” nhưng thực tế viện này mới chỉ tổ chức nghiên cứu về mặt lý luận, những ứng dụng ngôn ngữ thực tiễn và tư vấn chính sách thì viện vẫn này chưa làm được. Vấn đề “nói và làm” vẫn đang là yếu điểm trong phong cách làm việc của nhiều tổ chức ở Việt Nam.

Hơn thế nữa, các cơ quan báo đài – cơ quan ngôn luận có ảnh hưởng lớn đến lớp trẻ đang tự tạo ra sự mâu thuẫn với chính mình. Trong lúc họ đang tích cực lên án ngôn ngữ của lớp trẻ thì họ lại rơi vào lớp ngôn ngữ mà họ đang phê phán, ví như những bài báo mà họ đã từng viết và đăng: “Sock với ngôn ngữ của lớp trẻ”, “Vật vã với ngôn ngữ teen”, “ngôn ngữ teen chỉ xì–tin mới hiểu”, “Choáng với ngôn ngữ teen”, “Ngôn ngữ teen hiểu chết liền”, “Bạo loạn ngôn ngữ teen”, “Toát mồ hôi với ngôn ngữ teen”, “Ngôn ngữ teen lên ngôi”…Và, còn rất nhiều các bài khác nữa ! Nhưng vấn đề chúng tôi muốn đề cập ở đây là ở chỗ: Viết bài để bảo vệ sự trong sáng của Tiếng Việt mà cách dùng từ của các nhà báo lại không hề trong sáng: sock, lạ lùng, vật vã, toát mồ hôi, hiểu chết liền… Liệu đó là sự phê phán hay cổ súy, sự khu biệt hay khuếch tán. Rõ ràng, các cơ quan báo chí, ngôn luận phải tự nhìn lại mình, dù viết bài phản ánh, phê phán cũng phải dùng những từ ngữ thật chuẩn mực, thật sâu sắc. Báo chí Việt Nam hiện nay, đặc biệt là báo mạng đang rơi vào thực trạng quá chú trọng đến yếu tố gây chú ý, kích thích tò mò của độc giả bằng những từ ngữ tạo cảm giác mạnh như: khủng (bắt được ba ba khủng ở Phú Thọ, Cặp cây cảnh “ngai vàng” có giá siêu khủng…), kinh hoàng (Tai nạn kinh hoàng ở Bình Thuận, Kinh hoàng vụ án giết thai phụ, Kinh hoàng trào lưu xăm hình…), hot (Clip hot, tin hot, hot girl…), và còn rất nhiều các từ ngữ vừa lạ, vừa méo mó, vừa khó hiểu đang xuất hiện với mật độ dày đặc trên các mặt báo.

Vậy làm thế nào để Tiếng Việt ta được phát triển một cách khỏe mạnh, trong sáng ? Trả lời câu hỏi lớn này có rất nhiều ý kiến khác nhau song tựu trung lại thành hai luồng như sau:

Thứ nhất, ngôn ngữ có quy luật phát triển riêng của nó, chúng ta đừng quá lo lắng, đừng quá cố tình can thiệp sâu vào đời sống ngôn ngữ. Ngôn ngữ lớp trẻ ngày nay chỉ là một mầm non trên cây đại thụ cổ kính Tiếng Việt – cây đại thụ đã có tuổi thọ hàng nghìn năm với bao thăng trầm sóng gió, thăng trầm. “Mầm non ngôn ngữ lớp trẻ” ít có khả năng trở thành một nhánh trên cây đại thụ cổ kính kia chứ đừng nói có thể vươn tán che rợp cả vườn xanh văn hóa. Lớp ngôn ngữ “teen” không thể lan rộng ra ngoài nhóm tuổi trẻ và khi những cô, cậu học trò trưởng thành bước ra môi trường làm việc thì tự họ sẽ dũ bỏ những gì còn không còn phù hợp với lứa tuổi và môi trường sinh hoạt.

Thứ hai, để làm cho tiếng Việt phát triển, trong sáng và chuẩn mực, mọi người chúng ta cần có ý thức giữ gìn và bảo vệ, cần có một “bộ lọc tốt” để ngăn chặn những vẩn đục không đáng có lên ngôn ngữ truyền thống, đồng thời ta phải tiếp thu có chọn lọc những giá trị tinh hoa ngôn ngữ của nhân loại để làm giàu, hoàn thiện thêm vốn tiếng Việt của chúng ta. Một điều quan trọng không kém, là về phía Nhà nước cần phải có những chính sách thích hợp trong việc xây dựng ý thức bảo vệ và phát triển ngôn ngữ dân tộc.[8]

                 

                                                                 San Jose, Cali ngày 28 tháng 11 năm 2011
                                                                   Lê Phượng - Trần Như Quốc Hiếu
                                                                      (BBT http://www.votrandaiviet.org/)




[1] PGS TS Nguyễn Văn Khang, Viện Ngôn ngữ học Việt Nam.

[2] TS Dương Kỳ Đức, Tổng Thư ký Hội Ngôn ngữ học Việt Nam.

[3] Theo thống kê mới nhất của Nguyễn Quảng Tuân và Nguyễn Đức Dân, 1992.

[4] TS Phạm Văn Tình, Trích từ bài viết “Giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt”.

[5] PGS.TS Vương Toàn, Tiếng Việt trong sự tiếp xúc ngôn ngừ từ giữa thế kỷ XX.

[6] Hồng Hạnh, Giải mã ngôn ngữ @ của tuổi teen.

[7] Trích bài: Ngôn ngữ công sở “hiểu chết liền” http://www.tin247.com

[8] NGND – GS TS Lê Quang Thiêm – Chủ tịch Viện Ngôn ngữ học Việt Nam



Hỗ trợ online
Mr Đức Thuận