Tinh thần thượng võ dân tộc Việt Nam

BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU VỀ TINH THẦN THƯỢNG VÕ DÂN TỘC

1. Một số nét khái quát về truyền thống thượng võ của dân tộc

Một cây cổ thụ có thể đứng vững vàng trước phong ba bão táp nếu có rễ bám chặt vào lòng đất, một dân tộc có thể vượt qua mọi thử thách nghiệt ngã nếu dân tộc ấy có một truyền thống lâu đời và tốt đẹp. Truyền thống chính là “quốc hồn”, “quốc tuý” đưa dân tộc vượt qua mọi bước thăng trầm của lịch sử, để vững vàng trước những sóng gió, gian truân của cuộc đời và tiếp tục phát triển trong tương lai.

Việt Nam – một đất nước anh hùng và hào kiệt, tuy đất không rộng người không đông nhưng trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước dân tộc ta luôn đứng vững, giành thế chủ động khi đối diện với kẻ thù xâm lược do con người Việt Nam luôn biết kết tinh nhiều truyền thống tốt đẹp khác nhau để tạo nên những giá trị tinh thần thực sự. Từ sự kết hợp của truyền thống yêu nước, dũng cảm, quật cường, bất khuất trong chiến tranh chống xâm lược, cần cù trong lao động sản xuất, đoàn kết trong chiến đấu….Mà truyền thống thượng võ từng bước được hình thành, đó là những giá trị tinh thần độc đáo và khác biệt của dân tộc Việt Nam.

Truyền thống thượng võ của dân tộc Việt Nam có một lịch sử phát triển lâu đời và một cơ sở quần chúng sâu rộng. Ngày nay, nó vẫn còn đó và trở thành một trong những di sản văn hóa của dân tộc rất đỗi tự hào, là một trong những tinh hoa văn hoá của dân tộc Việt Nam, là kết tinh của một quá trình lâu dài đấu tranh chinh phục thiên nhiên và chiến đấu chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập, tự do cho tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân. Truyền thống quật cường, bất khuất trong đấu tranh chống xâm lược, thông minh, sáng tạo trong phát triển sản xuất đã tạo nên những nét đặc sắc riêng trong truyền thống thượng võ của dân tộc.

2. Nguồn gốc tinh thần thượng võ.

Truyền thống thượng võ của dân tộc Việt Nam có một lịch sử phát triển lâu đời trong suốt mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước. Truyền thống ấy bắt nguồn từ cuộc sống lao động và chiến đấu rồi trở lại phục vụ lao động và chiến đấu của người dân. Cho đến khoảng cuối thời kì nguyên thuỷ thì tổ tiên ta đã xây dựng được nền tảng vững vàng cho truyền thống thượng võ Việt Nam. Quá trình hình thành truyền thống thượng võ của dân tộc là một quá trình lâu dài và phức tạp, chịu sự tác động của nhiều yếu tố.

Tổ tiên ta vốn sống và định cư ở vùng đất mà điều kiện tự nhiên vừa thuận lợi, vừa khắc nghiệt. Thời khởi thuỷ Việt Nam là một xứ núi rừng, rừng chiếm tới 2/3 lãnh thổ nước ta. Sống trong vùng nhiệt đới ẩm với rừng cây xanh quanh năm, núi đồi trùng điệp, nhiều thú dữ, cho nên để sinh tồn và phát triển tổ tiên ta đã kiên trì lao động và chiến đấu chống lại sự khắc nghiệt của tự nhiên, qua đó đã rèn luyện được những đức tính và biệt tài: leo núi giỏi, săn thú giỏi, giỏi võ, giỏi vật và đặc biệt có truyền thống bắn tên giỏi, đây là biệt tài của con người Việt Nam ở chốn núi rừng.

Song Việt Nam không đơn giản chỉ là xứ núi rừng, Việt Nam còn là xứ sở của biển rộng, sông dài. Xứ sở ấy từ ngày xưa đã sản sinh ra những con người bơi lặn giỏi, chèo thuyền tốt, khoẻ mạnh phi thường.

Ngoài ra cũng trong thời kì đầu, con người sinh sống dựa trên thu lượm, nhặt hái những thức ăn có sẵn trong tự nhiên và săn bắn thú rừng là chủ yếu, do vậy lao động của từng cá nhân riêng lẻ không mang lại kết quả, con người phải dựa vào sức mạnh tập thể, lao động tập thể, phải luôn luôn có nhu cầu phát triển thể lực, rèn luyện võ thuật để nâng cao hiệu suất lao động. Trai gái dưới sự hướng dẫn của những người đứng đầu trong quá trình đi săn và hái lượm đã từng bước biết dùng gậy, dùng giáo, ném đá, leo trèo, chạy nhảy, bơi lội…

Như vậy, thông qua lao động, con người dần trở nên khôn khéo, khoẻ mạnh, vững vàng hơn, những động tác chạy, nhảy, leo trèo, bơi lội, những cách thức rình rập, rượt đuổi, đánh giết dần trở thành quen thuộc hàng ngày, rồi tiếp tục được củng cố và cải tiến. Tất cả các động tác, các thế đó, đã trở thành cội nguồn của các “đòn” từ đơn giản đến phức tạp trong các trường phái võ thuật ngày nay.

Mặt khác, trong quá trình dựng nước và giữ nước, ngay từ thời Văn Lang- Âu Lạc cho đến thời hiện đại, dân tộc ta đã phải đương đầu với bao tên giặc ngoại xâm hung hãn, từ giặc phương Bắc đến giặc phương Nam. Đứng trước sự lựa chọn giữa độc lập tự do với nô lệ, giữa sự sống và cái chết, người dân Việt Nam đã không ngần ngại cố kết với nhau đánh giặc giữ nước, “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”, tất cả già trẻ, gái trai, ai cũng có thể cầm súng, cầm gươm hay gậy gộc giáo mác, cùng xông pha ra chiến trường. Bằng những đội quân do mình xây dựng, vũ khí tự chế, nhân dân ta quyết tâm chiến đấu tới cùng để ngăn chặn bước tiến của quân thù. Từ quân lính đến tướng chỉ huy vẫn ngày đêm luyện tập, rèn luyện kĩ thuật, sức khoẻ, võ thuật để sẵn sàng xông pha trận mạc.

Chiến đấu và phục vụ chiến đấu không phải là công việc bình thường, mà rất ác liệt, nó đòi hỏi mọi người phải biết chịu đựng gian khổ, hy sinh, từ đào hầm, hào giao thông, vót chông, ngụy trang, xây đắp chòi canh, thiết lập đường dây liên lạc, dẫn nước vào hào sâu, đắp lũy, đắp thành ngăn giặc, tạo thế tiến công và phòng thủ…Tất cả đều bắt nguồn từ sức mạnh nhỏ bé của từng cá nhân và được tổ chức lại, phối hợp lại thành lực lượng lớn mạnh của cả cộng đồng để hoàn thành các trách nhiệm được giao phó.

Qua từng trận đánh kĩ năng chiến đấu lại được nâng cao. Kỹ thuật chiến đấu của cá nhân là cơ sở để hình thành một đội quân tự vệ quốc gia và cũng là nguồn gốc sâu xa, đích thực của một nền võ học cổ truyền vừa phong phú vừa đa dạng của đất nước Việt Nam anh hùng, bất khuất. Cũng trong chiến đấu nền võ thuật của dân tộc Việt Nam ngày càng được tôi luyện, mạnh mẽ hơn, kĩ thuật hơn và hiệu quả hơn.

Như vậy truyền thống thượng võ của dân tộc Việt Nam được nảy sinh cả trong quá trình lao động sản xuất và đấu tranh chống lại sự khắc nghiệt của thiên nhiên, chống lại sự hung bạo của kẻ thù xâm lược. Chính lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã xây dựng nên truyền thống thượng võ, tiêu biểu cho ý trí bất khuất, quật cường, trí thông minh, sáng tạo của dân tộc ta. Võ được tổng hợp từ những động tác cụ thể trong lao động và chiến đấu mà đúc lại thành các bài để luyện tập, ai cũng cần biết võ để tự vệ và để chiến đấu- chính yêu cầu đó đã tạo nên một vòng tròn khép kín đưa truyền thống thượng võ của dân tộc ta tiếp tục được gìn giữ và phát huy cho tới tận bây giờ.

          3. Truyền thống thượng võ của dân tộc Việt Nam qua các thời kì lịch sử

Tinh thần thượng võ của dân tộc Việt Nam vừa đa dạng về hình thức, phong phú về nội dung, độc đáo về phong cách thể hiện. Từ bao đời nay tinh thần thượng võ của nhân dân ta được thể hiện ở nhiều mặt trong cả sản xuất, vui chơi và chiến đấu, nó được lặp đi lặp lại, có tính kế thừa và phát triển liên tục qua các thời kì lịch sử, tuy vậy cũng có những bước thăng trầm khác nhau. Trong thời kì nguyên thủy, khi chưa có tài liệu thành văn, thông qua những trang sử được lật lên từ lòng đất và những trang sử còn lưu giữ trong lòng người qua các áng văn thơ, thần thoại, truyền thuyết thì tinh thần thượng võ, ước mơ, khát vọng muốn xây dựng những con người khoẻ mạnh, vạm vỡ, cao lớn của dân tộc ta vẫn hiện hữu rõ nét. Các nhân vật như ông Đổng (bố cậu bé làng Gióng)- “đầu đội trời, chân đạp đất, vai chạm mây”, ông “bóp chết rắn, cắn nát núi, hút sạch rừng, bưng ngang lũ”…Ông thần Nông của người Tày “cày rất khoẻ, đất lật lên từng tảng to nhỏ thấp cao như những trái đồi”….Và đẹp đẽ hơn là hình ảnh người dũng sĩ anh hùng làng Gióng, tuổi mới lên ba nhưng khi nghe tiếng đất nước có giặc ngoại xâm liền cất tiếng “ầm vang như sấm”, đứng phắt dậy vươn mình thành người khổng lồ ăn liền một lúc hết:

Bảy nong cơm, ba nong cà

Uống một hơi nước cạn đà khúc sông

Những hình tượng về người khổng lồ và dũng sĩ trong các câu truyện thần thoại nói trên tuy là những hình ảnh hư cấu, nhưng đã thể hiện được ước muốn cháy bỏng của con người Việt Nam thời khởi thuỷ là muốn xây dựng những con người có thể chất thực sự khoẻ mạnh, ít bệnh tật, để trước hết phục vụ nhu cầu làm ăn (sản xuất) và sau là đánh giặc (chiến đấu).

Vào giai đoạn Văn Lang - Âu Lạc (thế kỉ VII BC – thế kỉ II BC), tinh thần thượng võ của dân tộc ta được hình thành rõ nét. Nhân dân Văn Lang- Âu Lạc là nhân dân trọng võ, cư dân ai cũng biết đánh cá, ai cũng xăm mình, cắt tóc, họ lặn giỏi, bơi tài, chèo thuyền vượt biển thành thạo. Đặc biệt đời Hùng Vương thứ 18 đã tổ chức các cuộc đấu võ đua tài: thi võ, thi bắn, thi chạy, thi vật...trong các cuộc thi đó đã xuất hiện nhiều tay võ, tay vật  chuyên môn nổi tiếng như Lý Ông Trọng, Cao Lỗ, Nồi Hầu….Đây là những con người vừa giỏi võ, vừa giỏi vật, thông minh, sáng tạo, khoẻ mạnh hơn người.

Thủ lĩnh các bộ lạc thời kì này đều là những người giỏi võ nghệ, tài giỏi không chỉ trong chiến đấu mà còn cả trong lao động sản xuất. Khi phải đối diện với giặc Ân, giặc Tần, những người có uy tín, giỏi võ nghệ nhất được cử lên làm thủ lĩnh quân sự, nhân dân được vũ trang bằng cung nỏ, giáo mác sắc nhọn….Ban ngày họ ẩn sâu trong rừng luyện tập võ nghệ, ban đêm xuất kích tấn công dũng mãnh, bằng sức lực dẻo dai và tinh thần kiên cường, cuối cùng nhân dân ta cũng bảo vệ được nền độc lập dân tộc.

Tinh thần thượng võ của dân tộc ta được đặc biệt thể hiện trong công cuộc xây dựng thành Cổ Loa kiên cố, và cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Triệu Đà. Bao nhiêu lần đem quân xâm lược Âu Lạc là bấy nhiêu lần thất bại, cuối cùng để chống chọi với tinh thần quyết chiến của nhân dân ta, để chiếm đoạt Âu Lạc, Triệu Đà đã phải dùng kế gian xảo- kết duyên cho con trai và con gái An Dương Vương. Năm 179 BC Triệu Đà đạt được mục đích – thôn tính được đất nước Âu Lạc, đẩy nhân dân ta bước vào thời kì đen tối nhất, khó khăn nhất trong lịch sử. Nhưng đây cũng là thời kì kháng chiến vẻ vang, là điều kiện để tinh thần thượng võ của nhân dân ta được mài dũa thêm, trở nên sắc bén hơn và điêu luyện hơn.

Trong suốt hơn 1000 năm Bắc thuộc (179 BC – 905) nhân dân ta đã kiên trì, bền bỉ, liên tục đấu tranh chống lại những chính sách tàn ác, thâm độc của các triều đại phong kiến phương Bắc. Với ý thức độc lập, tự chủ, tinh thần yêu nước của nhân dân cùng sự chỉ đạo tài tình của các tướng lĩnh, mưu trí, giỏi võ nghệ như hai Bà Trưng, Bà Triệu, nữ tướng Lê Chân, nữ tướng Thiều Hoa, Mai Thúc Loan, Phùng Hưng, Khúc Thừa Dụ…Sau hơn 1000 năm, dân tộc ta đã đập tan được âm mưu xâm lược và đồng hoá của các triều đại phong kiến phương Bắc.

Từ thực tiễn lịch sử vĩ đại chống xâm lược đó, đòi hỏi nhân dân ta muốn chiến thắng kẻ xâm lược thì ý chí phải kiên cường bất khuất, trí tuệ phải thông minh, sáng tạo, sức khoẻ phải dồi dào. Đó là lẽ vì sao trong một thời gian dài dân tộc ta luôn coi trọng võ thuật, nhân dân cùng tướng lĩnh luôn luyện tập vũ trang, rèn luyện sức khoẻ trước khi ra chiến trận. Những nơi luyện võ thuờng là những nơi tụ nghĩa, nơi giáo dục, hun đúc lòng yêu nước, chí căm thù giặc, chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết cả về tinh thần lẫn thể lực cho các tướng lĩnh và quân sĩ khi tiến hành khởi nghĩa vũ trang.

Không chỉ dừng lại ở đó, truyền thống thượng võ tốt đẹp của nhân dân ta còn được thể hiện đậm nét trong thời kì phong kiến độc lập tự chủ. Trải qua các triều đại Ngô – Đinh - Tiền Lê – Lý - Trần - Hồ - Lê sơ, tinh thần thượng võ được thể hiện rất phong phú và đa dạng không chỉ nhằm rèn luyện quân sĩ, bảo vệ triều đình mà còn chống lại kẻ thù xâm lược. Nội dung của hoạt động võ trong cung đình thể hiện rõ ở ba mặt là võ với việc tổ chức quân đội của nhà nước quân chủ, võ học và võ cử.

Những người mở đầu các triều đại đều xuất thân là các võ tướng. Vương hầu thời Lý và Trần buộc phải tập võ để chỉ huy quân đội. Ở Thăng Long có trường bắn (xạ đình), nhà dạy võ (giảng võ đường). Cuốn Binh thư yếu lược của Trần Quốc Tuấn là bản cẩm nang cho các vị tướng thời đó sử dụng vào việc luyện quân, đánh giặc. Triều Lê, khoa trường đã tổ chức thi cử qui củ lấy tiến sĩ võ. Có thể nói võ đã hun đúc nên tinh thần thượng võ dân tộc, và trở thành “quốc bảo” góp phần vào việc giữ nước, củng cố nền độc lập của dân tộc.

Để phát triển kinh tế và xây dựng nền chính trị, quân sự vững mạnh, nhà nước phong kiến thời Lý- Trần- Hồ cho tuyển những người có sức khoẻ, giỏi võ nghệ sung vào lính, xây dựng hệ thống huấn luyện thể dục quân sự như cưỡi ngựa, bắn cung bày trận, phá trận, vật, bơi, đấu gậy…. Nhằm giáo dục, rèn luyện cho cả binh lính và tướng lĩnh có sức mạnh, sức bền bỉ, dẻo dai, có khả năng sử dụng vũ khí để bảo vệ và phát triển chế độ phong kiến tập quyền. Chính vì thế thời kì này xuất hiện rất nhiều những nhà cầm quân giỏi, những tướng lĩnh tài ba như Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Yết Kiêu, Phạm Ngũ Lão, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, …Họ là những con người tài trí vẹn toàn.

Bước sang giai đoạn Lê - Mạc, Trịnh – Nguyễn phân tranh, triều đình phong kiến cũng phát triển võ, thi đấu võ nhưng chủ yếu là để tuyển đô lực sĩ làm lính hầu hoặc để mua vui, chứ không nhằm rèn luyện thể lực, phát triển tinh thần võ thuật của dân tộc. Nho giáo và chế độ khoa cử càng phát triển thì quan niệm “trọng văn khinh võ” ngày càng lan tràn:

Văn ban cửu phẩm đã sang

Võ ban tứ phẩm còn mang gươm hầu

Quan văn mất một đồng tiền

Làm cho quan võ mất quyền quận công

Thời kì này giai cấp phong kiến giáo dục võ thuật cho binh lính chỉ cốt sao cho quân đội phong kiến có sức mạnh, có nghề võ, có khả năng sử dụng thành thạo một số vũ khí để bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị, trấn áp các cuộc đấu tranh của nhân dân.

Nhưng ngược lại với giai cấp thống trị, nhân dân trong các làng xã thời kì này đã tự phát tổ chức các lò võ, lò vật, mở các hội thi đấu biểu diễn, trò chơi dân gian sôi động như vật, bơi chải, đấu gậy, côn, quyền, đấu kiếm, đánh phết, vật cù, bắn cung nỏ, đánh đu, đá cầu, chạy, đánh khiên, đi cà kheo, đua ngựa, kéo co…Đây là những hội thi do nhân dân tổ chức, không kém phần hấp dẫn, lôi cuốn như thi Hương, thi Hội của triều đình phong kiến:

“Ba năm Chúa mở khoa thi

Đệ nhất thi vật, đệ nhì thi bơi

Đệ tứ thi đánh cờ người

Phường Bông tứ xứ mồng mười tháng ba”

                                                                                                                                                                                                         (Ca dao Nam Định)

Cũng trong thời gian này, vào thế kỷ XVIII, từ miền đất võ Bình Định nảy sinh phong trào nông dân Tây Sơn - phong trào nông dân vĩ đại nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam, với sự khởi sự của 3 anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ cùng nhiều võ tướng xuất sắc như Bùi Thị Xuân, Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng…Với những đôi chân thần tốc, quân và dân Tây Sơn đã nhanh chóng đẩy lùi được 5 vạn quân Xiêm và 29 vạn quân Thanh ra khỏi lãnh thổ nước ta, giữ yên bờ cõi. Và cũng chính từ miền quê ấy, thời gian ấy tinh thần thượng võ của dân tộc ta đã phát triển, lan toả mạnh mẽ hơn bao giờ hết.

Trong giai đoạn đầu của phong kiến nhà Nguyễn, các vị vua ít nhiều vẫn coi trọng võ quan, liên tiếp mở các khoa thi võ ở Huế, Hà Nội, Thanh – Nghệ, chương trình thi võ chia thành nhiều kì: kì xách tạ, múa côn, múa giáo, đánh quyền, đấu kiếm, múa khiên đao, bắn súng. Qua các kì thi cũng đã chọn được nhiều cử nhân võ, tú tài võ, thậm chí còn chọn được cả tiến sĩ võ và phó bảng võ.

Nhưng đáng tiếc là trong giai đoạn này do hạn chế của chế độ phong kiến và chịu sự tác động của bối cảnh lịch sử nên việc phát triển võ thuật bị hạn chế đi rất nhiều, nhà nước phong kiến không coi trọng nhiều đến sự rèn luyện thể lực của người dân, chú trọng quá đến việc đào tạo đội ngũ binh sĩ phục vụ cho đấu tranh giai cấp. Có thể nói, ở thời kì này tinh thần võ thuật của Việt Nam mang tính giai cấp rõ rệt và phần lớn là phục vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị.

                                                                                                                  *****

Ngày nay khi đất nước đã thanh bình, truyền thống thượng võ của dân tộc ta vẫn được coi trọng, truyền thống ấy thể hiện ở mọi thế hệ, mọi lứa tuổi và mọi giới tính, không kể thanh niên, thiếu niên hay phụ lão, tất cả mọi người đều góp công góp sức trong sự nghiệp xây dựng truyền thống thượng võ của dân tộc Việt Nam.

Truyền thống thượng võ của dân tộc ta ngày nay được thể hiện sâu sắc thông qua các lễ hội mà đối tượng cử lễ là các anh hùng dân tộc, những người đi đầu  trong sự nghiệp chống giặc ngoại xâm, bảo vệ và xây dựng đất nước, như lễ hội Thánh Gióng, Sơn Tinh (Thánh Tản Viên), Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo...

Bên cạnh các lễ hội có nghi thức trang trọng tưởng niệm sự nghiệp ngàn năm dựng nước và giữ nước, nhân dân ta còn tổ chức nhiều sinh hoạt hội hè sôi động như rước voi, rước kiệu bay, đánh vật, những trò chơi đu  tiên, tung  còn, kéo co, đánh cờ người, lễ hội đâm  trâu, chọi trâu hoặc múa lân sư rồng, múa tứ linh…Thông qua các lễ hội đó, đã góp phần giữ gìn các giá trị lịch sử - văn hóa dân tộc, nơi mà tinh thần thượng võ (đề cao sức mạnh, tinh thần chiến đấu…) chắc chắn sẽ là một nét đặc trưng không thể thiếu trong các nguồn mạch truyền thống được lưu truyền và tỏa sáng  theo những cách thức riêng của nó. Đáng chú ý nhất trong các lễ hội Việt Nam ngày nay là các sinh hoạt vật võ. Có lẽ đây là nơi tập trung cao nhất tinh thần thượng võ. Những là vật từ lâu đã hình thành ở khắp các vùng, truyền thống võ vật in dấu ở nhiều nơi trong cả nước. 

Côn quyền La hán La Hào

Còn như vật võ thì vào Liễu Đôi

Những nét đẹp của truyền thống thượng võ nêu trên được hình thành qua lịch sử và đã có tác dụng tích cực trong nhiều mặt của đời sống văn hóa - xã hội Việt Nam. Truyền thống thượng võ của dân tộc ta không đơn giản chỉ là sự đề cao sức mạnh cơ bắp mà ở đó còn có cả sức mạnh trí tuệ lẫn tâm hồn, là sự tôn vinh tinh thần anh dũng chiến đấu của con người Việt Nam vì nghĩa lớn, vì sự hòa  bình  và  ấm  no,  hạnh  phúc  của  người dân. Đây chính là bản chất đích thực của tinh thần thượng võ Việt Nam.

                                                                           *****

Nhìn chung trong suốt tiến trình lịch sử dân tộc, sức mạnh của dân tộc Việt Nam được tạo nên từ sự kết hợp của cả sức mạnh thể lực lẫn sức mạnh tâm lực (tinh thần thượng võ). Tinh thần ấy đã tồn tại  thật trong đời sống cộng đồng, được bộc lộ ra trong mọi biến cố của lịch sử dân tộc, sau mỗi lần đương đầu với bọn giặc ngoại xâm hung hãn, mạnh hơn, tàn bạo hơn ta nhiều lần thì tinh thần thượng võ lại được cộng hưởng, kết tinh thành truyền thống thượng võ hết sức lâu đời và tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Vì thế khi phải đương đầu với hoạ xâm lăng, nhân dân ta không hề run sợ và kết quả thì bao giờ cũng là:

“Nực cười châu chấu đá xe

Tưởng rằng chấu ngã, ai dè xe nghiêng!”

Truyền thống thượng võ Việt Nam là những tinh hoa kế thừa bao kinh nghiệm xương máu của tổ tiên ta từ đời này qua đời khác, luôn thấm đượm tinh thần anh hùng dân tộc trong suốt bề dày hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước. Trong quá trình lịch sử ấy, bên cạnh tinh thần thượng võ trong giai cấp thống trị, cũng đã hình thành tinh thần thượng võ trong nhân dân một cách sâu sắc. Chính nhân dân lao động là những người đầy tâm huyết đã vượt qua bao trở ngại, bao sự cấm đoán để đặng giữ gìn truyền thống thượng võ và phát triển cho tới ngày nay. Nhiệm vụ của thế hệ hôm nay là phải ra sức phục hồi, cải biến và phát triển truyền thống thượng võ để phục vụ đắc lực cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước hiện tại cũng như trong tương lai. 

                                    Võ sư: Trần Như Quốc Hiếu

                                                                  













Hỗ trợ online
Mr Đức Thuận